Jamgön Kongtrul Lodrö Thaye - Bài Ca Đại Ấn của ngài thể hiện chứng ngộ của ngài về Đại Ấn, bao gồm trong bộ sưu tập các bài hát có tên là “Đại dương các bài ca của dòng Kagyu,”. Jamgön Kongtrul Lodrö Thaye được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tiên tri trong Kinh Vua của Định, rằng “Trong tương lai, khi thời Mạt pháp bắt đầu, sẽ có một vị đại Bồ tát vĩ đại tên là Lodrö làm lợi lạc rộng lớn cho các chúng sinh bằng những nghĩa của năm loại trí huệ.” Thực vậy, Jamgön Kongtrul Lodrö Thaye đã củng cố phần lớn giáo Pháp của Đức Phật trong năm tuyển tập do ngài thu thập và biên soạn. Bằng cách này, ngài làm chậm lại sự biến mất của Phật Pháp. Khi ngài chứng ngộ cái thấy của Đại Ấn, một cách tự nhiên, ngài đã sáng tác Bài Ca Đại Ấn này.
Khenchen Thrangu Rinpoche sinh năm 1933 tại Kham, Tây Tạng. Ngài là giám hộ riêng của Đức Karmapa thứ XVII – Ogyen Trinley Dorje theo chỉ định của Thánh Đức Dalai Lama. Từ 1976, Ngài bắt đầu hoằng pháp tại phương Tây, và đã thành lập nhiều tu viện, ni viện, trường học cho trẻ em Tây Tạng và nhiều phòng khám bệnh. Ngài đã xuất bản 45 cuốn sách về Phật pháp bằng tiếng Anh. Ngài được đặc biệt biết đến vì khả năng làm cho những giáo lý phức tạp trở nên dễ tiếp cận với các học trò thời hiện đại.
Đây là tranh vẽ Jamgon Kongtrul Rinpoche ở giữa với đường nét bàn tay và bàn chân của ngài. Tác phẩm này thuộc về Tu viện Dzongsar ở Đông Tạng. Một dòng mô tả ở phía sau cho biết bức tranh được một học trò có tên là Tashi Chopel thực hiện khi Jamgon Kongtrul Rinpoche ở tuổi 85, tức là năm 1898, một năm trước khi ngài viên tịch, 1899. 

CUỐN SÁCH NÀY DÀNH CHO:

Bản Kinh Vua của Định được xem là cực kỳ quan trọng đối với những người muốn hiểu và thực hành Đại Ấn, bởi vậy cuốn sách này dành cho:
      

Những ai đang tìm hiểu và thực hành theo Kim cương thừa nói chung và dòng Karma Kagyu nói riêng
Những ai đang thực hành và nghiên cứu Phật giáo nói riêng và tâm linh nói chung, trên tinh thần Bất bộ phái
Những ai còn đang loay hoay trên con đường tu học và thực hành Phật giáo
Những ai muốn tìm hiểu về bản chất thực sự của Định
Những ai hiểu rằng tâm linh là con đường tiến hóa tất yếu của con người và khát khao đi trên con đường này

ĐỌC THỬ SÁCH

THÔNG TIN SÁCH

Tên sách: Kinh Vua của Định, Bài Ca Đại Ấn
Tác giả: Jamgon Kongtrul Rinpoche; Thrangu Rinpoche bình giảng
Chuyển ngữ: Hoàng Lan
Khổ sách: 15,5 cm x 24 cm
Số trang: 307 trang
Giá bìa: 128.000 vnđ
Giá ưu đãi: 103.000 vnđ (Sales 20%)
-- Phí ship đồng giá toàn quốc 25.000 vnđ --

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CUỐN SÁCH

Kinh Vua của Định, tiếng Sanskrit là SamadhiRaja Sutra. Có nhiều lý do để Khenchen Thrangu Rinpoche chọn Kinh này để bình giảng. 
Bản Kinh này là cơ sở của sự tiếp cận căn bản để tu hành samadhi được dùng ở những tổ chức tâm linh chính thuộc dòng Karma Kagyu. Thiền định chính của dòng này là về bản tánh của Đại Ấn, Mahamudra. Khi đại sư Gampopa, cũng được biết đến là Dakpo Rinpoche, giải thích hệ thống Đại Ấn, ngài đã dùng chính Kinh này. Bởi thế bản Kinh này phải được xem là cực kỳ quan trọng đối với những người muốn hiểu và thực hành Đại Ấn. Họ cần học, tư duy và hiểu nghĩa của Kinh Vua của Định. Kinh Vua của Định được Đức Phật ban theo lời thỉnh cầu của một Bồ tát tên là Ánh trăng Trẻ trung, trong tiếng Tây Tạng là Dawö Shönnu Gyurpa. Vị Bồ tát này được xem là một trong những Hóa thân trong chuỗi những đời trước của Gampopa. 
Kinh này được Đức Phật thuyết ở Đỉnh Núi Linh Thứu gần Thành Vương Xá (Rajgir).

Mong cho con và tất cả chúng sinh hữu tình đang ngập tràn khắp không gian 
Cùng đồng thời thành tựu giác ngộ và giải thoát, 
Và đạt Đại Ấn tối thượng.

MUA NGAY

Cảm ơn bạn đã ủng hộ Sách Thiện Tri Thức!

ĐẶT MUA TẠI ĐÂY

“Nếu ai đó đặt bàn tay mình vào lửa, điều gì sẽ xảy ra? Bàn tay sẽ bị phỏng. Đó có phải là lỗi của lửa không? Không. Bản tánh tự nhiên của lửa là đốt cháy, và sân giận với lửa không có ích lợi gì. Sai lầm nằm ở nơi người đặt tay vào lửa.” - Đại Bồ tát Tịch Thiên (Shantideva)

Do đó, nếu chúng ta, những người thực hành Pháp, tiếp xúc với những người bình thường chưa giác ngộ trong sinh tử, những người có những tính cách tiêu cực, chúng ta cần phải hiểu rằng đó là cách mà mọi thứ trong sinh tử vận hành. Chúng ta cần có khả năng nhận biết rằng đó là cách mọi sự là và thấy rằng những tính cách ấy hiện hữu, nhưng không bám vào tư tưởng rằng bản thân chúng ta bị hãm hại hoặc rằng những người khác đang cố gắng chống đối ta. Bất cứ sự bực bội nào mà lấy bản ngã làm trung tâm đang diễn ra trong chúng ta thì đều không phải là lỗi của họ mà của chính chúng ta. Chúng ta phải tu tập nhẫn này. 

ĐỌC THỬ SÁCH

HỌC TRÒ: Cái gì là sự khác biệt giữa định trong kinh này và tập trung thiền định sâu xa mà bản văn “Phân biệt những pháp và Pháp tánh” của Đức Di Lặc Maitreya đề cập đến như một chướng ngại cho việc đạt được Phật tánh là gì?
RINPOCHE: Trạng thái tập trung của tâm như một chướng ngại cho sự toàn giác của trí huệ, là thiền định trụ vào ý niệm “Tôi đang thiền định! Đó là đối tượng thiền định của tôi!” Có cái gì được giữ trong tâm và một cái tôi đang giữ nó trong tâm; thế nên, đó là một trạng thái thiền định được xây dựng bởi những ý niệm. So sánh với trạng thái tâm của một người bình thường thì thiền định này là rất tốt, nhưng nó lại che ám trong nghĩa ngăn chặn chứng ngộ bản tánh tối hậu của những sự vật. Mục tiêu căn bản trong Kinh Vua của Định và giáo huấn chỉ thẳng của Đại Ấn (Mahamudra) là chỉ thẳng thể trạng thật để chúng ta có thể nhận biết nó. Những giáo huấn này không hề thuộc loại thiền định do tâm tạo ra. Loại thiền định theo khái niệm này là một kinh nghiệm rất hữu hình, có vẻ “sâu xa” trong nghĩa chúng ta nghĩ cái chúng ta đang giữ trong tâm là tánh Không của mọi sự. Chẳng hạn, khi nhìn cái bàn này, chúng ta nghĩ “Cái bàn này thực sự là gì? Nó không có tự tánh nào. Đó là tánh Không và tôi có thể hiểu nó. Đây là cách nó thực sự là! Nó là tánh Không!” Bấy giờ chúng ta giữ khái niệm này trong tâm. Loại tập trung này, khi so sánh với trạng thái tâm của người bình thường thì rất sâu và quan trọng. Nhưng đối với trạng thái định của Kinh Vua của Định, cũng như với những giáo huấn chỉ thẳng của Đại Ấn, tập trung theo khái niệm như vậy là một chướng ngại. Trong Đại Ấn và cả Kinh Vua của Định, cái được tu hành như là định của cái thấy không phải là một tạo dựng khái niệm mà chúng ta đã pha chế và giữ trong tâm. Đó là việc nhìn vào bản tánh của tâm và thấy nó như nó là, rồi chỉ để cho nó hiện hữu tự nhiên. Chúng ta ở yên tự nhiên trong đó thay vì tạo dựng một số trạng thái giả tạo bằng suy nghĩ và giữ nó trong tâm. Nhìn theo cách này, bất cứ tạo dựng trí thức nào cũng là một chướng ngại cho trí huệ toàn giác.


HỌC TRÒ: Khi ngài nói định (samadhi), nó có giống như trạng thái thiền định thực sự?
RINPOCHE: Vâng, chúng ta có thể nói như thế. Trong tiếng Tây Tạng, ryamshag, từ dùng để diễn tả trạng thái thiền định có nghĩa đen là “Nghỉ ngơi trong trạng thái xả”. Truyền thống của những giáo huấn cốt lõi vạch ra hai cách lạc khỏi trạng thái xả: một được gọi là “lạc vào tinh túy bất động” và cái kia là “lạc vào sự khái quát tánh Không”. Khái quát tánh Không nghĩa là trùm phủ ý niệm tánh Không lên khái niệm của chúng ta về thực tại, giữ trong tâm ý niệm rằng mọi sự vật cụ thể là trống không. Đây là một tạo dựng giả tạo làm che ám trạng thái định.

HỌC TRÒ: Ngu độn hay vô minh thì vi tế hơn sân hay tham. Thế nên phương thuốc áp dụng cũng phải vi tế. Vô minh có phải là cái chúng ta kinh nghiệm như trạng thái bình thường của tâm? Nó có phải là tấm màn tự nhiên mà chúng ta phải làm tan biến hay nhìn thấu qua?
RINPOCHE: Chúng ta đã nói ngu độn hay vô minh có thể là trộn lẫn hay không trộn lẫn. Vô minh không trộn lẫn là không hiểu, hiểu sai, hay cảm thấy nghi ngờ. Nhưng khi chúng ta nhìn vào cái không hiểu, hiểu sai hay cảm thấy nghi ngờ, chúng ta không tìm thấy thực thể nào cả. Vào giây phút khám phá sự không có thực thể này, trạng thái ngu độn và vô minh không còn nữa. Thay vào đó, một sáng tỏ sống động hiện diện. Cái tỉnh thức sống động ấy vượt khỏi ngu độn và ngu tối.

HỌC TRÒ: Đôi khi bản tánh của tâm được thấy trong một thoáng chốc, như một le lói của sự thấy biết. Đâu là sự liên quan giữa khoảnh khắc ấy với tinh túy của giác ngộ?
RINPOCHE: Theo Uttara Tantra (Luận Phật tánh), trạng thái thức tỉnh, tinh túy của giác ngộ, là chứng ngộ hoàn toàn bản tánh vốn có của những sự vật - Pháp tánh. Thí dụ được dùng ở đây là so sánh với một đứa bé mới sinh nằm trong một căn phòng. Mặt trời chiếu sáng bên ngoài và vài tia sáng lọt qua cửa sổ. Đứa bé thấy tia sáng mặt trời, nhưng không thể bước ra ngoài và thấy mặt trời thực sự. Khi lớn lên và có thể ra ngoài, nó sẽ thấy mặt trời. Có liên hệ nào giữa ánh sáng mặt trời mà đứa bé thấy với mặt trời thật? Hẳn là có, nhưng để thấy mặt trời thật thì phải chờ đi ra ngoài khi lớn lên. Theo cùng cách, một thoáng thấy của sự thấy biết, một chớp sáng của nội quán mà bạn nói thì cũng giống như tia sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ. Có một liên hệ chắc chắn giữa cái này và trạng thái giác ngộ, nhưng không phải là bản thân trạng thái giác ngộ. Chúng ta cần kiên trì tu hành thiền định để chứng ngộ đầy đủ trạng thái này, thế nên hãy thực hành!

HỌC TRÒ: Liệu người ta có thể đạt được định thông qua thiền định hay thiền tuệ, hay đây chỉ là các kỹ thuật để đưa bạn đến điểm mà bạn cuối cùng có thể đạt được định?
RINPOCHE: Đó là vấn đề cá nhân phụ thuộc vào mức độ siêng năng tinh tấn của mỗi người. Một số người thực hành và tu tập shamatha (chỉ/định) và vipashyana (quán/huệ) và chứng ngộ trạng thái định. Những người khác, những người hơi lười biếng và không dấn thân trọn vẹn thì không. Tuy nhiên, trong tương lai, bất kỳ sự tu tập nào mà chúng ta đã thực hiện sẽ vận hành như một sự hỗ trợ cho sự chứng ngộ. Phần sau trong kinh này, cả shamatha (chỉ/định) và vipashyana (quán/huệ) sẽ được mô tả rõ ràng. Thông qua những thực hành này, chúng ta có nhận ra trạng thái định hay không phụ thuộc vào chính chúng ta.

TRÍCH ĐOẠN TRONG SÁCH

SamādhiRāja Sūtra (Kinh Vua của Định hay còn gọi là Nguyệt Đăng Kinh) được trı́ch dẫn rộng rãi trong các văn bản Tây Tạng. Đức Karmapa thứ XVI - Rangjung Rigpe Dorje đã chọn kinh này làm bản văn chı́nh cho việc nghiên cứu Đại Ấn - Mahamudra.
Bài ca Đại Ấn của Jamgön Kongtrül Rinpoche cũng là một bản văn quan trọng. Giản dị mà sâu xa, bản văn này trı̀nh bày cái thấy của Jamgön Kongtrül Rinpoche về Đại Ấn như là nền tảng, con đường và quả.
Do đó, tôi yêu cầu tất cả những ai thực hành Pháp ghi nhớ trong tâm ý nghı̃a của những giáo lý vô cùng quý báu này và biến nó thành kinh nghiệm cá nhân thông qua việc thực hành một cách đúng đắn. Xin hãy trân quý quyển sách này với lòng tôn kı́nh sâu sắc.

Chökyi Nyingma Rinpoche
vị Tulku được công nhận là Hóa thân thứ 7 của vị Lama dòng Drikung Kagyu, Đức Gar Drubchen, Đại thành tựu giả xứ Tây Tạng và Hóa thân của nhà triết học Phật giáo lừng danh thế kỉ 2, Long Thọ

LỜI NHẬN XÉT

đặt mua những ẤN PHẨM khác của sách thiện tri thức

đặt mua những ẤN PHẨM khác của sách thiện tri thức

MUA NGAY

CÔNG TY XUẤT BẢN SÁCH THIỆN TRI THỨC

Hotline: 0328033988

Email: contact@thientrithuc.com.vn

Website: http://thientrithuc.com.vn

©2021 Allrights reserved thientrithuc.com.vn

HỆ THỐNG PHÁT HÀNH

Địa chỉ: T8 Times City, Hai Bà Trưng, Hà Nội